# Phần 01

Tác Giả: Nguyễn Đình Nam

Ngày 24 Tháng 10 Năm 2023

Trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi đến nay, chúng tôi vẫn dành hết thì giờ tìm hiểu cuộc đời ngắn ngủi của Giáo Sĩ (G.S.) Francisco de Pina (1585-1625)\[1], một Linh Mục dòng Tên\[2] mà chúng tôi rất kính ngưỡng. Hiện nay, ai ai cũng công nhận rằng ngài là người tiên phong trong việc phát triển chữ Quốc Ngữ. Đây là một công trình rất vĩ đại mà ngài đã dành cho chúng tôi, những con dân người Việt. Vì thế, bài viết này ngoài việc tìm hiểu về cuộc sống của ngài ở ngoại thành Dinh Chiêm (Dinciam) bắt đầu từ năm 1620, chúng tôi muốn chứng tỏ sự cảm ơn từ đáy lòng của chúng tôi đối với ngài.

Trong 8 năm tận tụy ở Đàng Trong – từ  1617 đến 1625, đi theo lời kêu gọi của Thượng Đế, vị G.S. quí mến này đã hy sinh cả cuộc đời để phục vụ người dân tộc Việt Nam trong nhiều địa phương khác nhau như Hội An ở Dinh Quảng Nam\[3], lúc ngài bắt đầu trên con đường giảng đạo ở Đàng Trong, cho đến tận chân trời xa tại Nước Mặn ở Dinh Qui Nhơn. Trước khi mất, ngài dành rất nhiều thì giờ phục vụ giáo dân tại thành phố Dinh Chiêm, cách Hội An khoảng 9 km về phía tây.

Tuy hiện tại, chúng tôi có thể tìm hiểu rất nhiều về Huế và Hội An từ sách vở và tài liệu trong mạng và thư viện, nhưng lại không biết gì về hai nơi như Nước Mặn và Dinh Chiêm mà ngài thường lui tới. Vì thế, bài nghiên cứu này chúng tôi sẽ dành riêng để thỏa mãn sự tò mò ham học hỏi của chúng tôi về thành phố Dinh Chiêm, một nơi mà G.S. Pina dành rất nhiều thì giờ quí báu của ngài trong việc phát triển chữ Quốc Ngữ bằng cách dùng ký âm Việt chuyển qua những mẫu tự chữ Bồ Đào Nha. Dựa theo lịch sử, tại đây, ngài cũng đã thành lập một nhà thờ và mở trường dạy học tiếng Việt đầu tiên ở Đàng Trong cho hai vị giáo sĩ trẻ Alexandre de Rhodes (1593 -1661) và Antonio Fontes (1592 – sau 1655) khi họ mới đặt chân lên Đàng Trong cuối năm 1624.

Bối Cảnh

Ở đầu thế kỷ 17, nền kinh tế Đàng Trong đang phát triển rất mạnh mẽ do sự buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa ba quốc gia Nhật Bản, Trung Quốc và Đàng Trong. Vì Nhà Minh ở Trung Quốc cắt đứt bang giao và buôn bán với Nhật Bản, nhưng lại rất cần kim loại hiếm như vàng và bạc trong tiền tệ. Ngược lại, Nhật Bản rất ương chuộng những tấm lụa mềm mại của Trung Quốc và đồ gốm, gỗ thơm của Đàng Trong nên thương nhân cả ba quốc gia không ngần ngại thành lập Hội An, ở Đàng Trong thành một nơi trao đổi hàng hóa. Mỗi năm thuyền buồm theo mùa gió bấc thổi xuống từ phía đông-bắc, các thuyền buôn Trung Quốc và Nhật Bản lần lượt tụ họp ở Hội An trong vòng bốn tháng\[4]. Trong số các nước Âu Châu, trong thế kỷ 16, Bồ Đào Nha hầu như chiếm độc quyền buôn bán ở Á Châu. Riêng ở Đàng Trong, Chúa Nguyễn và dân chúng Đàng Trong rất ưa chuộc sản phẩm của họ, như kim may vá, áo sơ-mi, v.v… Quan trọng hơn nữa, Đàng Trong rất cần các khẩu súng thần công đúc bằng đồng từ quốc gia này. Vì thế, giữa Đàng Trong và Bồ Đào Nha cũng đã bang giao rất mật thiết.

Dưới đời chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613), Dinh Quảng Nam\[5] là một trong hai dinh trấn ở Đàng Trong – Dinh trấn thứ nhất là Dinh Thuận Hóa. Nơi đây, một cơ sở hành chánh trung ương đã được gầy dựng vào đầu thế kỷ 17 với công việc chính là quản lý và thu thuế từ các thuyền bè tụ họp buôn bán, trao đổi hàng hóa hàng năm tại thương cảng Hội An. Dựa theo phong tục chính quyền Đàng Trong, các thương nhân ngoại quốc tạm dừng chân tại Hội An; sau đó họ theo phép lịch sự đều phải ghé thăm Trấn Thủ Quan đóng đô tại thành Dinh Chiêm, cách Hội An không xa. Để được dễ dãi trong công việc buôn bán, họ thường gửi gấm lễ tiến\[6] từ đất nước họ. Riêng các thương gia Nhật Bản còn đóng vai trò tùy viên ngoại giao cho Mạc Phủ Nhật Bản. Đôi lúc, họ mang thư từ qua lại giữa Mạc Phủ và Chúa Nguyễn. Thường thường tàu bè ngoại quốc mỗi năm dừng chân tại Cù Lao Chàm để đăng ký và chuẩn bị đóng thuế nhập cảnh cho Đàng Trong. Thuế má hàng hóa đều tùy thuộc vào chiều dài của chiếc thuyền buôn. Trong khoảng thời gian (1600-1635), các thương nhân từ Nhật Bản phải mang theo giấy phép thông hành gọi là Châu Ấn Trạng mà chính quyền Nhật Bản cung cấp trước khi nhập cảnh vào Đàng Trong. Trong những năm chiến sự giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1627-1672), Dinh Chiêm còn đóng vai trò căn cứ quân sự trừ bị cho quân đội Đàng Trong. Vì thế, chúng tôi nghĩ thành trì Dinh Chiêm rất rộng lớn bao gồm những nơi quân đội bộ binh lẫn thủy quân tập dượt, bến thuyền bè, chuồng ngựa, voi, kho vũ khí, v.v…

Đồng hành với các thuyền buôn Bồ Đào Nha đến Đàng Trong là các giáo sĩ nhà dòng mà nổi tiếng nhất là dòng Tên lúc ấy. Trong khoảng thời gian này, họ có cơ sở vững chắc tại bán đảo Macao ở Trung Quốc. Theo chúng tôi nhận thấy, mặc dù, từ những ảnh hưởng lan tràn đến từ Nhật Bản trong việc cấm đạo Ki Tô Giáo bắt đầu vào năm 1614, Chúa Nguyễn có lẽ lúc ban đầu cũng đã e dè sự ảnh hưởng của Ki tô giáo đối với xã hội Đàng Trong, nhưng sự đe dọa về mặt quân sự của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài khiến Chúa Nguyễn không có sự lựa chọn nào khác, nên đã đồng ý, cho phép dòng Tên bắt đầu hoạt động kể từ năm 1615.

Dinh Chiêm Trong Lịch Sử

Vào đầu thế kỷ 17, dưới quyền lãnh đạo của Chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613), Hội An là một thương cảng rất thịnh hành ở vùng Đông Nam Á, đó là không kể các thương cảng nổi tiếng như Manila của Phi Luật Tân, Ayutthaya của Siam (Thái Lan), hay Longvek của Cam Bốt vào thời ấy. Để thâu thập ngoại tệ từ giao thương với các quốc gia trong việc canh tân đất nước, nhất là chuẩn bị bảo vệ lãnh thổ dưới mối đe dọa của Chúa Trịnh ở phương bắc, vào năm 1602, Chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu đổi tên Trấn Quảng Nam\[7] từ đời nhà Hậu Lê thành Dinh Quảng Nam  mà lỵ sở của nó ở xã Cần Húc , thuộc về huyện Duy Xuyên\[8] (về sau, năm 1806, xã Cần Húc được đổi tên thành xã Văn Đông, thuộc huyện Diên Khánh)\[9] và trao Dinh Quảng Nam cho Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) chức Trấn Thủ Quan nắm giữ quân quyền  – Lúc này, Dinh Quảng Nam bao gồm 3 phủ\[10] \[11]: Thăng Hoa\[12] ,Tư Nghĩa (còn có tên Tư Ngãi; nay Quảng Ngãi) và Hoài Nhân (còn có tên Hoài Nhơn; nay Bình Định)\[13]. Điều này cho thấy, vào đầu thế kỷ 17, lãnh thổ Dinh Quảng Nam kéo dài từ bờ nam Thu Bồn\[14], chạy xuống Quảng Ngãi, xuống tận Bình Định hiện nay. Trước đó, vào năm 1600, ngài trích huyện Điện Bàn bao gồm 5 xã: Tân Phúc, An Nông, Hòa Vinh, Diên Khánh và Phú Châu từ phủ Triệu Phong của Dinh Thuận Hóa và cập nhật nó thành phủ Điện Bàn, sau đó sát nhập phủ mới này vào với Trấn Quảng Nam.\[15]

Dinh Quảng Nam thường được dân gian gọi là Dinh Chiêm \[16] \[17] \[18]. Trong lịch sử Đàng Trong, “Dinh”\[19] đồng nghĩa với “Xứ”, “Thừa Tuyên”, “Trấn” và đồng cấp với “Tỉnh” sau này. Tuy nhiên, cái tên “Dinh Quảng Nam” hay “Dinh Chiêm” ngày xưa cũng biểu hiện thành phố trực thuộc kinh sư (Dinh Cát hay Huế)\[20], nơi Trấn Thủ Quan làm việc vào thời ấy. Đối với người tây phương đến giảng đạo, nhà thám hiểm hay buôn bán vào đầu thế kỷ 17, họ chỉ hiểu cái tên Dinh Chiêm theo ý nghĩa thứ hai này.

Lúc ban đầu, Chúa Nguyễn Hoàng đặt lỵ sở Dinh Chiêm ở Cần Húc (1602). Cho đến năm 1776, Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục vẫn cho biết Cần Húc vẫn còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam.\[21] Tuy nhiên, Lê Quang Định viết trong trong Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí (1806) rằng đến đời vua Gia Long, lỵ sở Dinh Quảng Nam đã dời về xã Thanh Chiêm.\[22] \[23] Đồng thời, Cần Húc xưa kia được đổi tên thành Văn Đông.\[24] \[25] Ngoài ra, Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 còn cho biết thêm rằng Cần Húc “tiếp giáp xã Thanh Chiêm”.\[26] Câu này nói lên rằng Cần Húc và xã Thanh Chiêm khác nhau hoàn toàn tuy nằm kế cận nhau. Nhưng trong mục “Thành Trì”, Đại Nam Nhất Thống Chí lại viết “Đầu bản triều dựng dinh trấn ở xã Thanh Chiêm thuộc huyện Diên Phước.”\[27] Thoạt đầu, hai câu này có vẻ mâu thuẫn với nhau. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, từ cái tên “Diên Phước” nói lên rằng câu này được viết sau 1822, vì trong năm đó, vua Minh Mạng (1792-1841) mới bắt đầu đổi tên huyện Diên Khánh ra Diên Phước. Điều này có nghĩa là sau 1822, triều đình vua Minh Mạng công nhận lỵ sở của Dinh Quảng Nam, như đời vua Gia Long trước đây, ở xã Thanh Chiêm thuộc huyện Diên Phước.

Một số nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng vào đầu thế kỷ 17, chúa Nguyễn Hoàng dời lỵ sở Dinh Chiêm khỏi Cần Húc, nhưng họ vẫn thắc mắc về vị trí mới của ly sở Dinh Chiêm thay thế cho Cần Húc. Kể từ 2002 cho đến nay, trong cả hai lần hội thảo, các học giả đã có nhiều bàn cãi sôi nổi về câu trả lời\[28]. Thêm vào nữa, trong Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 có nhắc đến Cần Húc và viết rằng xã này đã về sau được đổi tên ra là Văn Đông\[29], nhưng lại thêm chi tiết là xã Văn Đông thuộc về Huyện Diên Khánh (sau đổi thành Diên Phước)\[30] chứ không phải là Huyện Duy Xuyên nữa. Vậy thì Cần Húc (Văn Đông) đặt vị trí ở đâu, bao giờ thì lỵ sở Dinh Quảng Nam bị dời đổi và quan trọng hơn nữa là vì lý do gì?

Nhưng đối với nhà nghiên cứu như Phạm Đình Khiêm, Phan Khoang, Phan Du và Li Tana, họ cho rằng xã Cần Húc (Văn Đông) về sau này có tên mới là xã Thanh Chiêm\[31]. Nhưng một số học giả khác như Ngô Văn Minh và Lê Duy Anh, lại cho rằng Dinh Chiêm luôn luôn trú ngụ tại xã Cần Húc, Huyện Duy Xuyên, nay thuộc xã Mỹ Xuyên và không hề bị dời về xã Thanh Chiêm bao giờ. Ngoài ra, họ cho rằng địa điểm của xã Cần Húc luôn nằm về phía nam sông Câu Lâu thuộc về xã Mỹ Xuyên hay Thị Trấn Nam Phước hiện nay.\[32] Cũng có một số nhà nghiên cứu, như Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Phước Tương, Trương Quốc Bình, Nguyễn Thiếu Dũng, Huỳnh Công Bá\[33] và Nguyễn Đình Đầu có một suy nghĩ khác và cho rằng, trong vài năm đầu, lỵ sở của  Dinh Chiêm chính nằm trong xã Cần Húc, nhưng sau đó được dời về xã Thanh Chiêm vào năm 1604.\[34]

Mặc dù trong cả hai lần hội thảo (2002 và 2016), các học giả Việt Nam đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau về những câu hỏi trên, nhưng cuối cùng có lẽ, theo thời gian cho đến nay, mọi người đều đồng ý với Giáo Sư (GS) Nhật Bản Kikuchi Seiichi, thuộc trường nữ đại học Showa, Tokyo sau khi kiểm nghiệm kỹ lưỡng bức tranh cuộn Chaya Shinroku Kochi toko zukan (bắt đầu từ điểm này, chúng tôi xin gọi là Tranh Chaya – hãy xem Hình 19) và xác nhận rằng cơ sở hành chánh của Dinh Chiêm vào đầu thế kỷ 17 hiện diện trên phường Điện Phương, Thị xã Điện Bàn ngày nay.\[35] Nhưng đối với chúng tôi, sự khám phá đầy thú vị này vẫn chưa đủ vì ý nguyện của chúng tôi là muốn tìm hiểu sâu xa hơn thế nữa; chúng tôi muốn tìm ra chi tiết rõ hơn về cố dinh đô Dinh Chiêm từ thuở thành lập cho hết cuối đời nhà Nguyễn. Trước đây lỵ sở nó ở Cần Húc, sau này đi về đâu? Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn đi tìm vị trí không những của căn nhà ngang đồ sộ Trạm Thương Khách mà Tranh Chaya cho biết nằm sát bên bờ sông Chợ Củi (Thu Bồn), mà còn thành trì Dinh Chiêm nữa. Chúng tôi cũng muốn tìm hiểu sự lớn mạnh của thành phố Dinh Chiêm vào đầu thế kỷ 17. Chúng tôi không nghĩ nó chỉ giới hạn trong phạm vi thành Dinh Chiêm hay Cần Húc.

Còn một điều nữa cũng rất thú vị là trong Đại Nam Nhất Thống Chí khi trình bày về Phủ Điện Bàn\[36] đã nhắc rằng vào năm 1822 dưới đời Vua Minh Mạng, huyện Diên Khánh trong phủ Điện Bàn được đổi tên thành huyện Diên Phước (Diên Phúc). Không lâu sau, Vua Minh Mạng sát nhập địa phận của huyện Duy Xuyên vào với phủ Điện Bàn (1836)\[37].

Nói tóm lại, dựa theo Đại Nam Nhất Thống Chí 2006, thành Dinh Chiêm cũ là một cơ sở hành chánh đồ sộ, đắp bằng đất, với chu vi 1,410 m (300 trượng)\[38]; còn vị trí lỵ sở của nó nằm ở đâu còn cần nhiều khảo cứu và khám phá mới biết được. Nhưng Đại Nam Nhất Thống Chí 2006 cũng cho biết thêm rằng Vua Minh Mạng, vào năm 1833, sau khi xây cất xong thành Điện Bàn, từ bỏ thành Dinh Chiêm cũ và dời thành về xã La Qua\[39].

Để thống nhất các dữ kiện lịch sử có liên quan đến Dinh Chiêm, chúng tôi tóm tắt những chi tiết vào Bảng 1 như sau:

&#x20;<br>

| Năm                                                                                                                                                   | Biến Cố                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    | Ghi Chú                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                             |
| ----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- | ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- | ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ |
| 1600                                                                                                                                                  | Chúa Nguyễn Hoàng trích huyện Điện Bàn bao gồm 5 xã Tân Phúc, An Nông, Hòa Vinh, Diên Khánh và Phú Châu từ phủ Triệu Phong của Dinh Thuận Hóa, lập thành phủ Điện Bàn và sát nhập phủ mới này vào Trấn Quảng Nam. Ngài cũng đổi tên huyện Hy Giang của phủ Thăng Hoa thành huyện Duy Xuyên; đổi huyện Tư Nghĩa thành huyện Quảng Nghĩa và phủ Hoài Nhơn thành phủ Qui Nhơn. | <p>Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quí Đôn, 1776, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 54-55.Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 388, cho biết đến năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng mới chính thức thực hiện những công việc này.Tương tự như vậy, Đại Nam Thực Lục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Tiền Biên, quyển 1, trang 36, cho biết những chuyện này được thực hiện vào năm 1604.</p><p>Kết luận: Vì Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn ra đời sớm hơn các tài liệu lịch sử khác (1776), chúng tôi phải dựa theo những dữ kiện mà Lê Quí Đôn để lại.</p> |
| 1602                                                                                                                                                  | Chúa Nguyễn Hoàng đặt Dinh Quảng Nam bao gồm ba phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 | Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, 2006, trang 388.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   |
|                                                                                                                                                       | Lỵ sở Dinh Quảng Nam được đặt ở xã Cần Húc (hay còn gọi là Cần Hào), huyện Duy Xuyên.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         | Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, 2006, trang 431; Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, 1776, trang 152 và 185. Vào năm 1776, Lê Quí Đôn vẫn gọi “Cần Húc” hay “Cần Hào”, thuộc huyện “Duy Xuyên” – Thanh Chiêm lúc này chưa được nhắc đến.  Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Q. 1, trang 39 cũng cho biết như vậy. Vào năm 1806, Lê Quang Định viết trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí nhắc đến xã Văn Đông (trang 221).                                                                                                                                                                                                                                                                             |
|                                                                                                                                                       | Chúa Nguyễn Hoàng trao Dinh Quảng Nam cho con thứ sáu Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) trấn giữ.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     | Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quí Đôn, 1776, Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Thông Tin, 1976, trang 63.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                          |
| 1806                                                                                                                                                  | Vua Gia Long đặt tên mới cho Dinh Quảng Nam thành Trực Lệ Quảng Nam Dinh, lệ vào Kinh sư (Huế).                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    | Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 388.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  |
|                                                                                                                                                       | Lỵ sở dinh Quảng Nam được dời về xã Thanh Chiêm, huyện Diên Khánh, Phủ Điện Bàn                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  | Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 218. Điều này cũng là một cột mốc quan trọng. Bắt đầu từ đây, Dinh Quảng Nam (Dinh Chiêm) có lỵ sở nằm ở xã Thanh Chiêm. Trước đó vào năm 1776, Lê Quí Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục cho biết lỵ sở dinh Quảng Nam vẫn còn ở xã Cần Húc, trang 152 và 185.Giống như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Q. 33, trang 758 cũng cho biết như vậy.                                                                                                                                                                                                                       |
| Cần Húc bị đổi tên thành Văn Đông, nay lệ thuộc huyện Diên Khánh. Khoảng cách giữa xã Văn Đông và xã Thanh Chiêm là 632 m (316 tầm). | Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 431; Lê Quang Định, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, 1806, Phan Đăng dịch, trang 221, cho biết Văn Đông cách xã Thanh Chiêm 316 tầm. 1 Tầm = 2 m (ibid, trang 13)                                                                                                                                               |                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      |
| Khoảng 1810                                                                                                                                          | Giữa đời Gia Long, thành cũ Quảng Nam (Dinh Chiêm) ở Thanh Liêm được sửa sang đắp bằng đất.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       | Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 432. Đây có phải là lỗi chính tả không?                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         |
| 1812                                                                                                                                                  | Trực Lệ Quảng Nam gồm 2 phủ Điện Bàn và Thăng Hoa. Phủ Điện Bàn bao gồm 2 huyện Diên Khánh, Hòa Vang; phủ Thăng Hoa gồm 3 huyện Duy Xuyên, Hà Đông và Lê Dương.Địa bạ Dinh Quảng Nam được thực hiện trong năm này.                                                                                                                                                                                      | Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Dinh Quảng Nam I (Tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), NXB, Đại Học Quốc Gia, 2010. Trang 62.Ibid, trang 59.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            |
| 1822                                                                                                                                                  | Vua Minh Mạng đổi tên huyện Diên Khánh thành huyện Diên Phước.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        | Đại Nam Nhất Thống Chí, Q. 7, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 389.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  |
| 1827                                                                                                                                                  | Vua Minh Mạng đổi Quảng Nam Trực Lệ làm Trấn Quảng Nam; trích tổng Tân An, thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa vào huyện Duy Xuyên, phủ Thăng Hoa.                                                                                                                                                                                                                                                           | Ibid, trang 388.Ibid, trang 390.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     |
| 1832                                                                                                                                                  | Vua Minh Mạng đổi Trấn Quảng Nam thành Tỉnh Quảng Nam.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                | Ibid, trang 388.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     |
| 1833                                                                                                                                                  | Sau khi xây xong thành Điện Bàn ở xã La Qua, Vua Minh Mạng chuyển lỵ sở Dinh Quảng Nam về đây. Thành cũ bị bỏ.Thành Điện Bàn chu vi 489 trượng (2,298 km) ; cao 1 trượng 2 thước linh (5,64 m); hào rộng 4 trượng 5 thước (21,15 m ), sâu 7 thước linh (3,29 m).                                                                                                                                   | ibid, trang 432.Ibid, trang 396.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                     |
| 1836                                                                                                                                                  | Vua Minh Mạng thuyên chuyển và sát nhập huyện Duy Xuyên, thuộc phủ Thăng Hoa cho vào Phủ Điện Bàn. Nhà vua trích ra 4 tổng từ huyện Duy Xuyên và tạo thành huyện mới Quế Sơn.                                                                                                                                                                                                                         | Ibid, trang 390-391.Ibid, trang 391.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 |

Bảng 1– Dinh Chiêm trong Quá Trình Lịch Sử

Kết Luận

Trải qua gần 300 năm, bắt đầu từ Chúa Nguyễn Hoàng cho đến 1776, khi Lê Quí Đôn viết Phủ Biên Tạp Lục, Dinh Quảng Nam (tỉnh Quảng Nam hiện nay), được dân gian gọi là Dinh Chiêm, có lỵ sở ở xã Cần Húc, huyện Duy Xuyên. Nhưng thật sự chữ “Dinh” đồng nghĩa với “Trấn” hay “Tỉnh” và có nghĩa là tên của một đơn vị hành chánh rất lớn. Vì thế, Dinh Chiêm cũng có nghĩa là Dinh Quảng Nam mà sau này đến đời vua Minh Mạng được gọi là Tỉnh Quảng Nam. Nhưng đối với các giáo sĩ tây phương hay các nhà vẽ bản đồ, Dinh Chàm hay Dinh Chiêm chỉ là một thành trì lớn hay đô thị  quan trọng thuộc về Dinh Quảng Nam ở Đàng Trong. Điều này được phản ảnh trên các bản đồ của họ.

Sau khi phục quốc và thống nhất đất nước vào năm 1802, vua Gia Long quyết định đặt lỵ sở Dinh Quảng Nam ở xã Thanh Chiêm, thuộc huyện Diên Khánh, Phủ Điện Bàn (1806). Đồng thời, Dinh Quảng Nam trở thành trực lệ kinh sư. Lúc này, cái tên Cần Húc hầu như biến mất, trở thành Văn Đông (1806) mà lỵ sở lại bị sát nhập vào huyện Diên Khánh. Vua Minh Mạng đổi tên huyện Diên Khánh thành huyện Diên Phước (1822). Sau khi thành Quảng Nam mới được dựng lên bằng gạch, ngài dời lỵ sở tỉnh Quảng Nam về xã La Qua (1833) và cuối cùng, sát nhập huyện Duy Xuyên vào với phủ Điện Bàn (1836). Điều này cho thấy, để tránh hoang mang trong sử sách sau này, có lẽ vua Minh Mạng quyết định gom góp hai huyện Diên Phúc và Duy Xuyên vào một phủ vì cả hai, nay đều thuộc về phủ Điện Bàn.

Thêm vảo nữa, sự sát nhập của làng xã từ huyện này qua huyện khác đã gây ra hoang mang trong lịch sử, thí dụ xã Cần Húc, trước kia lệ thuộc huyện Duy Xuyên (trước 1776), sau bị đổi tên thành Văn Đông (1806) và chuyển qua huyện Diên Khánh (1812). Trong khi đó, ngược lại, các xã nằm giữa biên giới giữa hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh, như Câu Lâu, Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Gia Tịnh, Lang Châu và Bàn Thạch trước đó lệ thuộc vào huyện Diên Khánh (trước 1776); sau đó chuyển về lại với huyện Duy Xuyên (1812)\[40]. Đó là không kể chuyện đổi tên huyện từ “Diên Khánh” sang “Diên Phước” (1822), cũng như sự thiếu sót những tài liệu về địa bạ, tên tuổi và ranh giới các làng, xã, tổng, huyện trong các thế kỷ trước đây. Nhất là sau hơn 30 năm nội chiến, Trịnh Nguyễn phân tranh và Tây Sơn nổi dậy, chúng tôi nghĩ những tài liệu lịch sử bị thất lạc hay đốt cháy rất nhiều. Đối với các sử gia hiện đại hay nhà nghiên cứu, để tìm hiểu và tháo gở ra nắm bùi nhùi này thật là một chuyện tương đối rất khó khăn.

Phương Pháp Nghiên Cứu

Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ được chia làm bốn phần chính:

Phần 1 – Vị Trí của Dinh Chiêm trong Các Bản Đồ Cổ

Trong phần này, chúng tôi sẽ sưu tầm 6 tấm bản đồ cổ. Ngoại trừ tấm bản đồ của Cantelli-Rossi xuất bản năm 1683, chúng tôi sẽ tham khảo các bản đồ bắt đầu trong thế kỷ 19 trở lên. Vì chúng tôi cho rằng trước thế kỷ 19, các bản đồ trước đây đều thiếu độ chính xác về kinh độ. Chúng tôi sẽ loại bỏ những bản đồ cổ xuất bản trước thế kỷ này. Những bản đồ được lựa chọn đều ghi rõ vị trí của thành phố Dinh Chiêm. Sau khi ghi nhận và phân tích tọa độ của thành phố Dinh Chiêm từ các bản đồ cổ, chúng tôi sẽ loan báo và so sánh khoảng cách giữa Dinh Chiêm và Hội An với dữ kiện lịch sử mà các giáo sĩ, ngoại giao hay thám hiểm đã viết lại trong sách vở của họ.

Phần 2 – Cần Húc Ở Đâu?

Công việc thứ hai mà chúng tôi dự định thực hiện là tìm cho ra vị trí của xã Cần Húc trong bản đồ hiện đại mà dưới đời vua Gia Long đổi tên nó thành Văn Đông. Đây là một việc tương đối quan trọng vì là cột mốc để xem như là việc bắt đầu trong công cuộc đào xới lịch sử nhà Nguyễn. Tuy câu trả lời lúc đầu có vẻ khó khăn, như những nhà nghiên cứu tiên phong cũng đã từng trải qua, chúng tôi nghĩ mình đã tìm ra hai cách để tìm hiểu ra vị trí thực thụ của xã Cần Húc, đó là vì chúng tôi tìm ra một tấm bản đổ dưới thời Pháp thuộc (1907-1916) có ghi rõ vị trí của xã Văn Đông tức Cần Húc (Hình 7). Cách thứ hai là dùng Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do Lê Quang Định viết năm 1806 để tính toán ra vị trí của trạm nghỉ Thanh Chiêm, xã Thanh Chiêm, xã Văn Đông và đầm Thanh Hà. Từ đầm Thanh Hà là nơi địa điểm bắt đầu và cố định, chúng tôi theo Google Map để tìm ra vị trí của các làng xã khác – trong quyển địa lý này, tất cả tên tuổi và khoảng cách của chúng đều được viết rất rõ ràng bằng đơn vị đo chiều dài “tầm”\[41].

Trong Phần 2, chúng tôi cũng nghiền ngẫm một ý tưởng mới lạ đưa ra trong bài viết của Ngô Văn Minh với tựa đề “Về Vị Trí Lỵ Sở Quảng Nam Năm 1602” đăng trên tập san Nghiên Cứu Lịch Sử, số 1.2004. trong bài viết, ông đã nêu lên một thí dụ lịch sử mà chúng tôi cho là rất quí báu từ gia phả tộc Nguyễn Văn sống trong xã Câu Lâu, đó là một dòng chữ “Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc, Diên Khánh huyện, Uất Lũy tổng, hậu cải Duy Xuyên huyện, Quảng Nam tỉnh”. Trong phần đầu “Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc…” mang hai ý nghĩa nói rằng Cần Húc ngày xưa không chỉ là một xã tầm thường mà là một châu thổ do phù sa bồi bổ và lắng đọng tại cửa sông do sự giao thông giữa sông Cầu Mống và một con sông cổ. Đồng thời, Cần Húc cũng là tên của một thuộc – thuộc là một đơn vị hành chánh tương đối to lớn tương đương với tổng dựa theo nghề nghiệp và trực lệ kinh sư Huế – bao gồm lãnh thổ của chính nó và, tối thiểu, có xã Câu Lâu là thành viên. Nếu đã lệ vào cùng thuộc Cần Húc, trong quá khứ cả hai đều đã từng lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên vì trước 1776, xã Cần Húc trực thuộc huyện Duy Xuyên.  Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu và phân tích về hai dữ kiện thú vị liên quan đến Cần Húc như trên.

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ dùng sử liệu mang đến từ Đại Nam Nhất Thống Chí. Nhưng ngay cả một số chi tiết nhỏ trong các bản dịch Đại Nam Nhất Thống Chí cũng không thống nhất cho lắm vì có sự khác biệt, tuy nhỏ nhặt, nhưng khiến cho độc giả hoang mang trong các bản dịch ra từ đời vua Tự Đức ấn hành vào năm 2006 so sánh với bản từ đời vua Duy Tân ấn hành vào năm 1964, thí dụ như trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006 viết xã Cần Húc nằm gần xã Thanh Chiêm, nhưng trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 1964 có chỗ lại cho rằng xã Thanh Chiêm chính là lỵ sở Dinh Chiêm lúc ban đầu triều Nguyễn mà không nhắc nhở gì đến xã Cần Húc.\[42] Có nhiều chi tiết diễn tả trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006 nhưng lại thiếu trong bản dịch 1964. Ngay cả các chi tiết trong các bản dịch Phủ Biên Tạp Lục do Lê Quí Đôn viết cũng có khúc mắc. Vì thế, khi cần, chúng tôi sẽ dùng một ấn bản mà thôi, rồi cố gắng tìm tòi các sử liệu khác, cùng thời để giải tỏa các khiếm khuyết này.

Theo chúng tôi nghĩ, có một số chi tiết quá cô đọng viết trong Đại Nam Nhất Thống Chí đã gây hoang mang và nhiều tranh cãi trong giới trí tức tại Quảng Nam và cả nước, thí dụ như cái tên “Dinh Chiêm”. Có một số nhà nghiên cứu gọi Dinh Quảng Nam là Dinh Chiêm, còn một số khác muốn gọi nó là Dinh Trấn Thanh Chiêm. Để nhấn mạnh cái tên tục Dinh Chiêm như đã được các giáo sĩ dòngTên\[43] thường dùng trong đầu thế kỷ 17, chúng tôi sẽ dùng từ “Dinh Chiêm” để ấn định Dinh Quảng Nam mà cũng là cái tên tục của thành phố Quảng Nam (Quinam). Còn cái tên Cần Húc hay Văn Đông thì sao? Vị trí của chúng và quá trình lịch sử của chúng là như thế nào? Hay nói một cách khác là tại sao cách Chúa Nguyễn lại chuyển cơ sở hành chánh dinh trấn đi nơi khác để cuối cùng xây dựng một thành lũy kiên cố Dinh Chiêm ở miền nam Điện Bàn. Vậy thì vị trí thành Dinh Chiêm ở đâu? Có phải là nó tọa ngự tại xã Thanh Chiêm hay không? Tuy Tranh Chaya cho chúng ta biết vào năm 1640, căn nhà Thương Khách nằm sát bên bờ Sông Chợ Củi, nhưng vị trí của nó ở đâu trong phường Điện Phương nay vẫn còn là một nghi vấn. Nếu tìm ra vị trí ngôi nhà này, chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy thành Dinh Chiêm vì chúng tôi nghĩ chúng nằm rất gần nhau. Một câu hỏi không kém quan trọng là lỵ sở Dinh Chiêm, trong lịch sử nhà Nguyễn, là Cần Húc (Văn Đông) được sát nhập vào với Huyện Duy Xuyên, nhưng trong một thời gian dài sau đó, nó lại thuộc về huyện Diên Khánh (Diên Phước). Sự kiện này khiến chúng tôi, những nhà nghiên cứu hiện đại phải chóng mặt, hoa mắt. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ cho rằng các sử quan nhà Nguyễn đã viết một cách sai lầm hay Lê Quí Đôn lầm lẫn. Chúng tôi chỉ nghĩ rằng sau khi học hỏi về sự thay đổi của sông ngòi ở miền nam Điện Bàn, nhất là hai con sông Câu Lâu và Cầu Mống\[44], những câu trả lời thích đáng sẽ hiện ra để giải tỏa sự ham muốn tìm hiểu sự thật trong lịch sử.

Ngoài Đại Nam Nhất Thống Chí, để đưa ra những nhận xét và kết luận xác đáng, chúng tôi sẽ cần rất nhiều tài liệu lịch sử khác như Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) do Lê Quang Định viểt; Phủ Biên Tạp Lục (1776) và Kiến Văn Tiểu Lục Toàn Tập do Lê Quí Đôn viết và cả Đại Nam Thực Lục (1821-1909). Sau đó, chúng tôi sẽ sưu tầm trong mạng hầu hết các bản đồ cổ liên quan đến Hội An; chúng tôi sẽ chú tâm nhất vào vùng nam Điện Bàn và các phụ cận về hướng nam của nó vì vùng đất này, nói chung là dinh đô của Trấn Quảng Nam – Dinh đô này bắt đầu vào năm 1602, khi Chúa Nguyễn Hoàng ghé qua Cần Húc và rất hứng thú với phong cảnh nơi đây. Dựa theo ngày tháng, chúng tôi sẽ bắt đầu bằng với Tranh cổ Chaya hiện đang cất giữ tại Chùa Jomyo-ji được vẽ rất tỉ mỉ khoảng năm 1640\[45] do một thương nhân Nhật từng sống nhiều năm tại Hội An –hãy xem Hình 19. Sau đó, chúng tôi sẽ sưu tầm tấm bản đồ cổ điễn Đại Việt Thiên Nam Chí Lộ Đồ Thư (1686). Đây là một tấm địa đồ cổ nhất trong lịch sử Đại Việt – hãy xem Hình 12; tấm bản đồ người Anh có tựa đề Plan of Touron Harbour do Capt. Arthur Gore và Philip Bromfield vẽ (1764) – hãy xem Hình 26;  tấm Giáp Ngọ Nguyên Bình Nam Đồ (1774) trong Hồng Đức Bản Đồ – hãy xem Hình 18\[46]; tấm bản đồ nhỏ từ đời vua Đồng Khánh (1886-1888) –hãy xem Hình 23; sau đó là tấm bản đồ khá quan trọng đối với chúng tôi. Trong khoảng thời gian 1907-1916, chính quyền Pháp Thuộc bận rộn xây cất một đường xe lửa nối liền hai thành phố Đà Nẵng và Hội An. Điều mà chúng tôi cảm thấy lí thú về tấm bản đồ này (Hình 7) là nó cung cấp rất đầy đủ tên các làng, xã, huyện của các vùng chung quanh Hội An, kể cả Điện Bàn,Vĩnh Điện, v.v… Quan trọng hơn nữa là bản đồ này cho thấy vị trị của xã Văn Đông (chính là xã Cần Húc ngày xưa) nằm bên bờ bắc (tả ngạn) sông Cầu Mống – Tên con sông Cầu Mống được trích ra từ bản đồ quân sự Hoa Ky vẽ vào năm 1972-1984 (Hình 24); tiếp sau đó là hai tấm địa đồ vùng Điện Bàn được giới thiệu trong luận án Tiến Sĩ của Huỳnh Thị Bảo Châu (2012) cũng rất quan trọng đối với công việc nghiên cứu chúng tôi về địa lý và địa hình của vùng nam Điện Bàn trong đầu thế kỷ 17 và 20 – Hình 9 và 27. Rất tiếc, tấm bản đồ thuộc địa này cũng cho thấy vào năm 1930, thành Dinh Chiêm cổ xưa đã bị san bằng. Để hiểu rõ những thay đổi và tiến triển trong một gian ngắn về địa hình tại miền nam Điện Bàn, chúng tôi kết hợp hai Hình 7 và 27 vào với nhau trong Hình 28. Đồng thời, trong vòng 23 năm (1907-1930) đã có sự tiến triển vượt bực trong giao thông toàn quốc, nói chung, và nam Điện Bàn, nói riêng, dưới thời Pháp thuộc. Con đường đất mòn Thiên Lý\[47] nằm bên bờ tường Dinh Chiêm cũ đã được thay thế bằng Quốc Lộ (QL) Số 1 chạy xuyên qua giữa nội thành Dinh Chiêm, khiến thành Dinh Chiêm hầu như bị phá hủy và không còn nguyên vóc dáng như xưa nữa. Tuy nhiên, thế vào đó, chính quyền Pháp đã xây dựng “Dinh ấp Thanh Chiêm” cho xã Thanh Chiêm. Điều này nói lên tầm mức quan trọng của Thanh Chiêm vào thời ấy. Khi góp nhặt chi tiết từ hai tấm bản đồ 1907 và 1930, chúng ta có thể mường tượng ra vóc dáng đồ sộ của thành Dinh Chiêm thuở nào. Từ hai tấm bản đồ này, chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể vẽ lại sơ đồ của nội thành Dinh Chiêm cùng với vị trí của nó so với Đường Thiên Lý ngày xưa (trước khi chính quyền Pháp Thuộc xây cất Quốc Lộ Số 1).

Phần 3 – Sự Thay Đổi lệ thuộc của Các Xã giữa Huyện Duy Xuyên và Huyện Diên Khánh

Mục đích của Phần 3 là đi tìm hiểu sự liên hệ trong hành chánh giữa hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh mà trong đó, một số xã từng lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên, nhưng vì một lý do nào đó chuyển lệ sang huyện Diên Khánh. Chúng tôi muốn biết lý do gì mà triều đình họ Nguyễn lại làm như thế. Bắt đầu từ xã Cần Húc, vào thời lập quốc 1602, chúa Nguyễn Hoàng lệ thuộc nó vào với huyện Duy Xuyên. Nhưng đến năm 1776, Lê quí Đôn cho biết trong Phủ Biên Tạp Lục là xã Cần Húc vẫn giữ lệ cũ trong huyện Duy Xuyên,\[48] nhưng có một số xã trong huyện Duy Xuyên lại thay đổi và lệ theo huyện Diên Khánh. Mãi sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, sau khi xã Cần Húc mới bị đổi tên ra Văn Đông (1806),\[49] \[50] xã Thanh Chiêm trở thành lỵ sở của Dinh Quảng Nam và lệ thuộc huyện Diên Khánh.\[51]

Hiện tại, chúng tôi nghi ngờ rằng sự chuyển hướng về lỵ huyện trong hành chánh của một số xã như Câu Lâu, Mỹ Xuyên Đông, Mỹ Xuyên Tây, Bàn Thạch, v.v… có liên quan đến bồi, lở của sông ngòi ở miền nam Điện Bàn. Khi quan sát một số bản đồ cổ như tranh Chaya, Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư (1686) hay Giáp Ngọ Bình Nam Đồ (1774), chúng tôi nhận thấy rằng địa hình vùng nam Điện Bàn thay đổi rất nhiều trong suốt 400 năm qua. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tìm hiểu nguyên do của những thay đổi trong sông ngòi để cuối cùng có thể đưa ra một lời kết luận thích đáng.

Phần 4 – Cuộc Tìm Kiếm Thành Dinh Chiêm và Trạm Thương Khách Dưới Thời Các Chúa Nguyễn

Trước hết, chúng tôi đặt giả thiết là Chúa Nguyễn Hoàng, trước khi thành lập dinh trấn ở nam Điện Bàn sẽ khảo sát địa thế vùng đó rất kĩ càng. Dựa theo những dữ kiện sẵn biết về Dinh Chiêm như địa điểm lúc ban đầu của nó, thí dụ như vị trí của Cần Húc, Thanh Chiêm, Điện Phương Đông-Tây và nhất là con đường Thiên lý chạy thẳng về phía tây nam trong vùng nam Điện Bàn, chúng tôi sẽ dùng website [www.floodmap.net](http://www.floodmap.net) để thu thập cao độ của những nơi này. Từ website [www.floodmap.net](http://www.floodmap.net), dữ kiện mà chúng tôi muốn thu lượm là độ cao của một hay nhiều điểm trên tuyến đường Thiên Lý và các vùng chung quanh vì chúng tôi nghĩ, đất đai cao độ thì xác suất sẽ có phần cao hơn để Chúa Nguyễn xây dựng thành Dinh Chiêm hay Trạm Thương Khách trên đó. Chúng tôi cũng nghĩ rằng sau khi tìm ra dinh thự, chúng tôi sẽ tìm thấy Trạm Thương Khách hay ngược lại vì chúng có khả năng nằm rất gần nhau.

Dựa vào tin tức mới về sự khám phá của các nhà bác học vào năm 2015 về dấu tích của hệ thống sông ngòi ngầm dưới những bãi sa mạc trong vùng Sahara ở Phi Châu bằng cách chụp hình vệ tinh, chúng tôi cũng đặt lên một giả thuyết mới rằng tương tự như thế, chúng tôi hy vọng dùng những hình ảnh vệ tinh tải xuống tư Google Map, chúng tôi có thể nhận diện hầu hết các vùng sình lầy, sông ngòi, đầm hồ hay ruộng vườn trong vùng nam Điện Bàn được bồi đắp hay sạt lở trong vòng mấy trăm năm nay. Một trong những mục đích chính của chúng tôi là hy vọng tìm ra được bờ sông Chợ Củi nằm gần sát thành Dinh Chiêm trong thế kỷ 17.  Ngoài ra, qua kết quả thâu lượm từ [www.floodmap.net](http://www.floodmap.net) chúng tôi cũng mong muốn tìm thấy tiềm năng của một vài vùng đất cao chung quanh miền nam Điện Bàn mà chúng có thể được dùng trong việc xây cất căn nhà thương khách đồ sộ nằm bên bờ sông Chợ Củi như trong tranh Chaya. Dựa vào lịch trình tiến hóa và biển đổi của sông ngòi chung quanh nam Điện Bàn, nhất là của bốn dòng sông Chợ Củi, Câu Lâu,  Dưỡng Chân và Cầu Mống. Chúng tôi lựa chọn bốn dòng sông quan trọng này để học hỏi là vì sự thay đổi về chiều rộng của các bờ sông, lẫn chiều hướng chảy của chúng trong quá trình lịch sử phản ảnh trên các bản đồ cổ có thể sẽ cho chúng tôi những khám phá thích thú. Chúng tôi đặt ra giả thuyết rằng chính sự thay đổi của những dòng sông này, có lúc bồi, có lúc sạt lở, và cũng có lúc khô cạn sẽ đưa ra những câu trả lời xác đáng về những dữ kiện lịch sử, thí dụ như trong lịch sử xã Câu Lâu hay Mỹ Xuyên có lúc thuộc về huyện Duy Xuyên, nhưng theo thời gian sau đó, lại có khi chúng thuộc về xã Diên Khánh\[52]. Nói một cách tổng quát, chúng tôi muốn trở về quá khứ để nhận diện ra địa hình của các con sông như Cầu Mống, Câu Lâu, Thu Bồn, Dưỡng Chân, Bà Rén, v.v… nhất là sau những mùa lụt lội trong lịch sử nam Điện Bàn. Sau khi nhận dạng ra chúng trong hình chụp vệ tinh, dựa vào các sách vở lịch sử cùng với các bản đồ cổ, chúng tôi hy vọng sẽ khám phá ra vị trí, địa thế và địa hình xưa kia của làng, xã, thôn như Cần Húc (Văn Đông),Thanh Chiêm, thành Dinh Chiêm, Phú Chiêm, Đông An, Chợ Củi v.v… trong nhiều thế kỷ trước. Sau đó, để đưa đến nhưng phần kết luận chính xác về chúng trong mỗi thời gian, chúng tôi sẽ sưu tầm hầu như tất cả các bản đồ xưa vẽ vào nhiều thế kỷ trước có liên quan đến Hội An, Dinh Chiêm hay Đà Nẵng. Chúng tôi hy vọng một trong những bản đồ cổ sẽ chứa đựng nhiều dữ kiện về thành Dinh Chiêm và trạm thương khách. Sau khi tìm ra dữ liệu trong các bản đồ cũ, chúng tôi sẽ đối chiếu và minh định những dữ kiện này trong các sách sử như Đại Nam Nhất Thống Chí, Phủ Biên Tạp Lục, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Đại Nam Thực Lục hay chính trong Tranh Chaya. Ngoài ra, chúng tôi cũng không quên tra cứu những tài liệu hữu ích từ các danh nhân, nhà thám hiểm đã từng đặt chân đến Hội An, thành phố Dinh Chiêm hay các vùng phụ cận như Quán Sứ Hà Lan Jeronimus Wonderaer (1602),  G.S. Alexandre de Rhodes (1640), William Dampier (1688), Thiền Sư Thích Đại Sán (1695) và Charles Chapman (1778). Dùng nhiều dữ kiện khác nhau nhưng chỉ điểm cùng phương hướng, chúng tôi hy vọng rằng cuối cùng chúng tôi sẽ thành công trong việc nhận dạng thành Dinh Chiêm và Trạm Thương Khách trên bản đồ nam Điện Bàn.

Phần 1

Vị Trí của Thành Phố Dinh Chiêm trong Các Bản Đồ Cổ

Mục đích chính của chúng tôi trong Phần 1 là để tìm hiểu một cách tổng quát về vị trí của thành Dinh Chiêm (còn gọi là Dinh Chàm, hay Caciam (Kẻ Chàm)) dưới ánh mắt của người ngoại quốc qua những tấm bản đồ cổ. Dựa theo nhiều nhân chứng lịch sử kể cả Quán Sứ Hà Lan Jeronimus Wonderaer (1602)\[53]  G.S. Alexandre de Rhodes (1640)\[54], Thiền Sư Thích Đại Sán (1695)\[55], Charles Chapman (1778)\[56], Phạm Đình Khiêm (1958)\[57], v.v… tất cả đều cho biết thành Dinh Chiêm nằm rất gần Hội An ở phía tây, hay chính xác hơn, một số họ còn cho biết hai thành phố này cách xa nhau khoảng 9 km (6 miles) bằng đường thủy. Vì thế, chúng tôi sẽ dùng con số này và so sánh với những kết quả từ 6 cái bản đồ cổ mà chúng tôi sưu tầm trong mạng.

Trong lúc lựa chọn các bản đồ cổ, ngoại trừ tấm bản đồ cổ do Cantelli-Rossi vẽ năm 1683 – chúng tôi lựa chọn nó vì nó có vẻ chính xác và tương đối có nhiều chi tiết về địa hình của Hội An và Dinh Chiêm, chúng tôi sẽ loại bỏ các bản đồ cổ xưa hơn trong thế kỷ 16, 17 và 18. Lý do là vì cho đến đầu thế kỷ 19, các nước như Anh và Pháp mới sở hữu những phương thức tính toán kinh độ một cách chính xác trên hàng hải. Cho mãi đến năm 1884, cả thế giới mới công nhận đường kinh tuyến chính 0º chạy dài qua thành phố Greenwich, Anh Quốc là tiêu chuẩn quốc tế. Vì thế, trong một số bản đồ cổ, chúng tôi phải thay đổi hệ thống kinh tuyến của các quốc gia khác sang vị trí tại Greenwich.

Trên mỗi bản đồ, nếu có thể được, chúng tôi sẽ dùng nhãn quang để đọc tọa độ của ba thành phố: Đà Nẳng, Hội An và Dinh Chiêm – tuy vẫn biết rằng cách đo đạc tọa độ từ các bản đồ cũ, đôi khi rách nát, hay nhăn nheo có thể sẽ đưa đến những địa điểm thiếu chính xác, nhưng chúng tôi vẫn phải cố gắng tận sức mình. Sau đó, chúng tôi sẽ tính khoảng cách chim bay giữa Hội An và Dinh Chiêm để xem nó có chính xác hay không khi so sánh với con số 8-9 km trong các tài liệu lịch sử. Một điều quan trọng nữa là chúng tôi muốn biết vị trí tương cận của hai thành phố này, đó là chúng nằm cùng một bên phải (hữu ngạn) hay trái (tả ngạn) bên bờ sông Thu Bồn.

&#x20;

<figure><img src="/files/6p7pT3ZzlwQBtfHexPSU" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

<figure><img src="/files/J6wUTxTMQYWu0gu6chCp" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

<figure><img src="/files/supUfhcsF84ZLDPiCIfu" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

<figure><img src="/files/XUUnGuwe2gt7HWfwIr71" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

<figure><img src="/files/ThRdPX7pQAkwKmSo2ByZ" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

<figure><img src="/files/5aVeWzwcnyW55VuZbLEC" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

Kết Quả

Sau đây là một vài nhận xét của chúng tôi sau khi tra cứu rất kỹ lưỡng những bản đồ trên:

1\.            Tất cả các bản đồ đều cho biết Hội An và thành Dinh Chiêm nằm cùng bên bờ bắc (tả ngạn) của sông Thu Bồn. Đây là kết luận của các nhà nghiên cứu đương thời sau buổi hội thảo vào năm 2016. Chúng tôi đồng ý với họ về điểm này.

2\.            Tọa độ của ba thành phố Đà Nẵng, Hội An và Dinh Chiêm từ các bản đồ cổ (Hình 1-6) không chính xác. Kết quả từ các bản đồ cổ cho thấy khoảng cách giữa Dinh Chiêm và Hội An là từ 28 km đến 72 km, xa hơn 8-9 km mà chúng tôi ghi nhận từ sách vở của các giáo sĩ Ki tô Giáo, các nhà ngoại giao hay nhà thám hiểm vào thời xưa. Tuy nhiên, từ những bản đồ xưa, chúng ta biết vị trí liên đới giữa những thành phố này rất mật thiết với nhau. Hãy xem Bảng 2 với những kết quả được tóm tắt sau đây:

&#x20;<br>

| Số | Bản Đồ                    | Khoảng Cách từ Hội An đến Dinh Chiêm (Km/Miles) | Dinh Chiêm Vĩ/Kinh Độ |                  |
| --- | --------------------------- | ---------------------------------------------------- | ----------------------- | ---------------- |
| 1   | Cantelli-Rossi 1683         | 72                                                   | 45                      | (15,732,107,664) |
| 2   | Rigobert Bonne, 1771        | 28                                                   | 18                      | (15,575,107,700) |
| 3   | John Cary, 1801             | 56                                                   | 35                      | (15,542,107,615) |
| 4   | Philippe Vandermaelen, 1827 | 28                                                   | 18                      | (15,889,108,007) |
| 5   | John Arrowsmith, 1844       | 45                                                   | 28                      | (15,640,107,625) |
| 6   | John Dower, 1844            | 44                                                   | 27                      | (15,680,107,670) |

Bảng 2 – Khoảng Cách Đường Chim Bay giữa Dinh Chiêm và Hội An từ Các Bản Đồ Xưa

Mặc dù tấm bản đồ Cantelli-Rossi 1683\[58] xa xưa nhất, nhưng lại cho thấy nhiều chi tiết nhất. Trên bản đồ này, chúng ta có thể thấy đầm Thanh Hà nằm giữa Hội An và Dinh Chiêm. Chi tiết này trên tấm bản đồ Cantelli-Rossi thật rõ. Ngoài ra, chúng tôi còn có thể nhận ra được Phú Chiêm nằm về phía đông của Dinh Chiêm. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Hội An và Dinh Chiêm có phần lệch lạc, cách xa nhau khoảng 72 km.

Cả hai tấm bản đồ Rigobert Bonne, 1771 và Philippe Vandermaelen, 1827 cho ra cùng một kết quả kề cận nhất, đó là 28 km. Nhưng so với 8-9 km như mong muốn, con số này vẫn còn rất cao và không chính xác.

&#x20;

Phẩn 2

Cần Húc Ở Đâu?

Đây là câu hỏi khúc mắc trong nhiều năm nay mà các nhà nghiên cứu thường băn khoăn, bứt rứt hơn 60 năm nay. Ngoài ra, xưa nay các nhà nghiên cứu cũng muốn biết sự quan hệ giữa Cần Húc ở huyện Duy Xuyên và Thanh Chiêm ở huyện Diên Khánh. Thoáng nhìn hai cái tên cho thấy dường như chúng là hai đia địa phận riêng biệt vì chúng lệ vào hai huyện hoàn toàn khác nhau. Nhưng các nhà nghiên cứu thường tự hỏi phải chăng chúng là chỉ là một địa phương, nhưng có hai tên khác nhau? Nhưng nếu Cần Húc chính là Thanh Chiêm thì tại sao lại có sư thay đổi trực lệ từ huyện Duy Xuyên qua huyện Diên Khánh? Bắt đầu vào năm 1958, nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm ra tận Thanh Chiêm, tỉnh Quảng Nam để điều tra và tìm hiểu thêm về cái chết của Thầy Giảng Anrê Phú Yên. Sau khi trở về, ông loan báo là Thanh Chiêm chính là sử danh của Cần Húc xưa kia. Dĩ nhiên, có một số nhà nghiên cứu không đồng ý với quan điểm này và vì vậy họ tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi để đưa đến câu trả lời thích đáng. Đến năm 1995, Sử Gia Huỳnh Công Bá, sau khi tốn nhiều thì giờ điều tra, đã kết luận rằng Cần Húc không phải là Thanh Chiêm mà hơn nữa, sau này đến đời vua Tự Đức (1829-1883), nó đổi tên thành “Cồn Úc”, một xứ trong xã Văn Đông.  Riêng nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy lại nghĩ rằng Cần Húc là ký âm của “Kan Hu”; trong tiếng Chăm có nghĩa là lò luyện đúc đồng. Chúng tôi đồng ý với sự suy nghĩ này của hai nhà nghiên cứu Huỳnh Công Bá và Nguyễn Sinh Duy, và sẽ tìm cách định vị xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17.

Dựa vào lịch sử chúng tôi biết rằng xã Cần Húc vẫn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam trong thời nội chiến giữa nhà Nguyễn và Tây Sơn (1773-1802)\[59]. Trong đời vua Gia Long, vào năm 1806, Lê Quang Định trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí bắt đầu giới thiệu hai cái tên Văn Đông\[60]và Thanh Chiêm trong sử sách và quan trọng hơn, cho biết xã Cần Húc không còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam nữa. Bắt đầu từ đó, xã Thanh Chiêm chính thức trở thành lỵ sở của Dinh Quảng Nam.\[61] Trong Địa Bạ Quảng Nam viết năm 1812, Nguyễn Đình Đầu cho biết diện tích của xã Văn Đông là 11.1.11.6.1 (khoảng 5 ha)\[62] so với xã Thanh Chiêm (248.8 4.1 – khoảng 121 ha).\[63] Điều này cho thấy tầm mức quan trọng của xã Thanh Chiêm đối với ngoại thương dưới thời vua Gia Long và cho chúng ta thấy rằng trong lịch sử xã Cần Húc (nay trở thành xã Văn Đông) không phải là xã Thanh Chiêm. Tuy đã hiểu nhiều hơn về cả hai xã riêng biệt này, chúng tôi vẫn muốn biết vị trí của chúng ở đâu trong Dinh Quảng Nam vì chúng tôi vẫn thắc mắc tại sao chúng lại lệ thuộc vào hai huyện Duy Xuyên và Diên Khánh hoàn toàn khác nhau như vậy.

Hiện tại, chúng tôi đã nghĩ ra 2 cách để tìm ra vị trí của xã Văn Đông (tức là xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17).

Cách 1 – Hãy xem Hình  7 – Thành Dinh Chiêm Tồn Tại dưới Thời Pháp Thuộc (1907-1916). Giữa hình, cái tên xã Văn Đông được vẽ và bao lại trong vòng tròn đỏ. Đó là vị trí xã Văn Đông (tức là xã Cần Húc vào đầu thế kỷ 17-19) ở phía tây nam của xã Phú Chiêm, đối diện với xã Câu Dẫn (ngày xưa là xã Câu Lâu), cách nhau qua con sông Cầu Mống. Diện tích xã Văn Đông vào năm 1812 rất bé nhỏ, chỉ khoảng 5 ha.\[64]

&#x20;

<figure><img src="/files/f32B6YgVGAB0TO8DcJsr" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

Cách 2 – Chúng tôi sẽ dùng những khoảng cách giữa các xã như xã Thanh Chiêm, xã Văn Đông và trạm nghỉ Thanh Chiêm đến đầm Thanh Hà đều được cung cấp trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do Lê Quang Định viết năm 1806. Sau đó, dùng đầm Thanh Hà như là một cột mốc vì nó tương đối không thay đổi với chiều rộng là 138 m, chúng tôi sẽ dùng Google Map để đo khoảng cách giữa bến đò Thanh Hà và xã Văn Đông (2.270 m)\[65]; giữa xã Văn Đông và xã Thanh Chiêm (632 m)\[66] và giữa xã Thanh Chiêm và Trạm Nghỉ Thanh Chiêm (846 m).\[67] – các khoảng cách đều được đổi ra từ tầm ra mét (1 tầm = 2 mét). Cuối cùng, chúng tôi sẽ tìm ra vị trí và tọa độ của xã Văn Đông, xã Thanh Chiêm and trạm nghỉ của nó. Nhưng chúng tôi muốn lưu ý rằng trong việc tính toán toạ độ của các vị trí lịch sử này, chúng tôi sẽ đặt ra giả thiết rằng tuyến đường Nguyễn Du chính là con đường đất bọc theo phía nam thành Dinh Chiêm ra đến Văn Đông (Hình 7) mà Phạm Đình Khiêm đã nhắc đến khi ông ra Thanh Chiêm tìm hiểu về thành phố Dinh Chiêm.\[68] Mặc dù, đường Nguyễn Du không phải là con đường đất ngày xưa, nhưng chiều dài và đường hướng của chúng, chúng tôi nghĩ, cũng không cách biệt cho lắm. Hãy xem kết quả ghi nhận trên Google Map (Hình 8) sau đây.

<figure><img src="/files/dS8uobA3rSvJJpuKesKT" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

Kết quả:

Những dữ kiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806), Địa Bạ Quảng Nam (1812) liên quan đến Văn Đông (xưa kia là Cần Húc) và xã Thanh Chiêm được vẽ trên Hình 8 cho thấy hai xã này nằm tiếp cận nhau trên con đường Nguyễn Du hướng về Hội An; khoảng cách giữa hai địa phương này là 632 m (hơn nửa cây số)[\[69\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn69). Chỉ cần dùng Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806), nay chúng tôi có thể xác định một cách rõ ràng rằng xã Cần Húc và xã Thanh Chiêm không phải là một. Có lẽ nhiều năm trước, các sử quan trong các đời sau nhà Nguyễn không thể tìm ra vị trí của Cần Húc (Văn Đông) nữa, hay cho rằng hai xã Cần Húc và Thanh Chiêm nằm quá gần nhau nên mới gán hai xã này với nhau. Giả thiết này có vẻ phù hợp và phản ảnh trong Đại Nam Nhất Thống Chí, 2006, nhưng lại không trùng hợp với thống kê địa lý của hai xã vào năm 1806 do Lê Quang Định thực hiện trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đồng ý với Lê Quang Định viết vào năm 1806 và tán thành lối kết luận của các nhà nghiên cứu thâm niên Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Phước Tương, Trương Quốc Bình, Nguyễn Thiếu Dũng, Huỳnh Công Bá và Nguyễn Đình Đầu (rằng xã Cần Húc và xã Văn Đông nằm ở hai vị trí khác nhau và cách nhau khoảng nửa cây số).[\[70\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn70)

Khi dùng Địa Bạ Quảng Nam để tìm hiểu diện tích Văn Đông vào năm 1812, chúng tôi nhận thấy rằng địa phận của nó rất nhỏ, chỉ còn khoảng 5 ha, trong khi diện tích của xã Thanh Chiêm to lớn hơn nó hơn 24 lần (121 ha). Điều này cho thấy dưới đời vua Gia Long và các vị vua kế tiếp, Cần Húc, bấy giờ đổi tên thành Văn Đông, không còn giá trị trong lãnh vực thương mại hay quốc phòng. Có lẽ lúc nội chiến xảy ra giữa Tây Sơn, nhà Nguyễn và Trịnh, Cần Húc đã bị tàn phá không còn nhận diện được nữa sau 30 năm chiến tranh. Vì thế, sau cuộc nội chiến, mọi dịch vụ thuế má và ngoại thương với các nước ngoài đều được dọn về xã Thanh Chiêm. Bắt đầu từ đời vua Gia Long, lịch sử cho thấy xã Thanh Chiêm biến thành lỵ sở thực thụ của Dinh Quảng Nam.

Còn trạm nghỉ Thanh Chiêm nằm ngoài phạm vi thành Dinh Chiêm, nhưng vẫn trong xã Thanh Chiêm. Khoảng cách giữa trạm nghỉ và trung tâm xã Thanh Chiêm là 846 m (gần một cây số)[\[71\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn71). Điều này cho biết tầm mức quan trọng của xã Thanh Chiêm với nền kinh tế Phủ Điện Bàn, nói riêng, và toàn thể Đàng Trong, nói chung. Trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí, Lê Quang Định diễn tả dọc đường phố Thanh Chiêm rất thịnh vượng;  “quán xá đông đúc”[\[72\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn72); dân tình có vẻ ấm no.

&#x20;

Từ nội thành Dinh Chiêm, nằm sát bên tuyến đường Thiên Lý, đến xã Văn Đông là hơn 2 km. Khi so sánh vị trí Văn Đông tìm ra từ Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí và trong bản đồ trong thời Pháp Thuộc 1907-1916 (Hình 7), chúng tôi nhận thấy kết quả từ hai tài liệu rất tương xứng; vì vậy, chúng tôi có thể cho rằng vị trí xã Văn Đông trên hai bản đồ đều rất chính xác. Ngoài ra, để kiểm chứng địa điểm xã Văn Đông thêm một lần nữa, nếu chúng ta chú ý trên tranh Chaya (Hình 19), nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống có vẽ một gian nhà ba gian, hai chái và một cây dừa cao đứng sừng sửng bên đứng bên cạnh; gần đó bên phải là một bến đò. Chúng tôi nghĩ mái nhà lá tượng trưng cho xã Cần Húc xưa kia. Vị trí căn nhà này rất phù hợp với xã Văn Đông trong hai tài liệu trước.

&#x20;

Dùng những dữ kiện trích ra từ Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí và Google Map, chúng tôi đã tìm ra vị trí của xã Văn Đông (tức xã Cần Húc xưa kia) nằm trên đường Nguyễn Du[\[73\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn73), bên bờ sông Cầu Mống với tọa độ (15,87737 độ Vĩ, 108,27691 độ Kinh), bên cạnh T-Tattoo – Xăm Nghệ Thuật Quảng Nam. Còn trung tâm của xã Thanh Chiêm vào năm 1806 cũng nằm trên đường Nguyễn Du hiện nay với tọa độ (15,87535 độ Vĩ, 108,27175 độ Kinh), bên cạnh Quán Lẫu Bò 152. Trạm nghỉ Thanh Chiêm ngày xưa cũng nằm trên đường Nguyễn Du, với tọa độ (15,870509 độ Vĩ, 108,266211 độ Kinh), cách xa Đình Làng Thanh Chiêm và Tượng Phật Bà Bằng Đá Trắng hiện nay khoảng 200 m về phía đông bắc.

&#x20;

**Địa Phận Châu Thổ Cần Húc**

Trong gia phả của tộc Nguyễn Văn mà gia đình ông Nguyễn Ngọc Lan, người xã Câu Lâu đã cung cấp cho biết rằng Cần Húc đã có một thời là châu thổ mà trong đó, xã Câu Lâu cũng từng lệ thuộc vào nó. Trong gia phả, gia đình ông đã ghi nhận như sau:

&#x20;

“Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc, Diên Khánh huyện, Uất Lũy tổng, hậu cải Duy Xuyên huyện, Quảng Nam tỉnh”[\[74\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn74).

&#x20;

Trước hết, khi đọc các tên các địa phận trên, chúng tôi bỗng nhiên cảm thấy cái tên “Cần Húc” quen thuộc nổi bật vì qua lịch sử, chúng tôi được biết kể từ năm 1806, cái tên “Cần Húc” không còn trong sách vở lịch sử nhà Nguỳễn nữa. Thế vào đó là cái tên “Văn Đông”. Khi đọc kỹ càng hơn, chúng tôi nhận thấy lối trình bày của những địa danh này là từ nhỏ đến lớn, bắt đầu từ xã Câu Lâu và chấm dứt tại tỉnh Quảng Nam. Nếu dựa theo tiêu chuẩn viết tên của các địa danh từ Điạ Bạ Quảng Nam viết vào năm 1812 , chúng tôi nghĩ chúng ta có thể viết lại dòng chữ trên từ lớn đến bé theo thứ tự như sau: “Tỉnh Quảng Nam, Phủ Điện Bàn, huyện Diên Khánh (hậu cải huyện Duy Xuyên), tổng Uất Lũy[\[75\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn75), thuộc châu thổ Cần Húc, Câu Lâu xã”. Chú ý khi đọc đến “huyện Diên Khánh (hậu cải Duy Xuyên huyện), tổng Uất Lũy…, chúng ta nên hiểu rằng tổng Uất Lũy luôn luôn thuộc huyện Diên Khánh, chứ không phải thuộc về huyện Duy Xuyên. Chúng tôi nghĩ viết lại gia phả trên theo tiêu chuẩn mà Nguyễn Đình Đầu nêu lên và thêm vào hai dấu ngoặc nơi “hậu cải Duy Xuyên” sẽ dễ đọc và hiểu hơn.

Hiện tại, chúng tôi tìm tòi được hai hình ảnh (hãy xem Hình 9 và 10) tượng trưng cho hình ảnh sông ngòi Điện Bàn vào năm 1602 khi Chúa Nguyễn Hoàng ghé qua Cần Húc[\[76\]](https://nghiencuulichsu.com/2023/11/22/dinh-chiem-dinciam-o-dau/#_ftn76) lần đầu tiên và hai năm sau, quyết định đặt dinh trấn Quảng Nam tại nơi này.

&#x20;

Hình 9 được bổ túc dựa vào công trình nghiên cứu của các nhà địa chất Vũ Văn Phái và Đặng Văn Bào – chúng tôi ghi thêm tên các địa danh trên bản đồ. Tin tưởng vào sự chính xác của hai nhà địa chất chuyên môn, chúng tôi phải đặt giả sử rằng địa mạo của nam Điện Bàn trong hình phản ảnh quang cảnh địa thế vùng nam Điện Bàn vào đầu thế kỷ 17. Hình 9 vẽ rất rõ hệ thống sông ngòi ở đây. Ở miền nam Điện Bàn, ngay ngã tư mà bốn con sông nhập làm một, hai dòng đi lên từ nguồn, đó là Sông Chợ Củi cùng với Sông Dưỡng Chân (Sông Bà Rén) nhập làm một dồn dập chảy về hướng đông-đông bắc. Không bao lâu, dòng nước lũ này lại chia đôi khi tiến vào địa phận xã Cần Húc và xã Câu Lâu; Sông Cầu Mống nằm ở phía bắc có khuynh hướng chảy về phía đông bắc – đông tách rời xã Cần Húc và xã Câu Lâu ra hai miền riêng biệt – tả ngạn có xã Cần Húc và xã Câu Lâu nằm ở hữu ngạn. Còn dòng Sông Câu Lâu ở phía nam chảy về hướng đông bao bọc xã Câu Lâu. Nằm giữa hai sông Câu Lâu và Cầu Mống, nó nay trở thành một gò nổi, trông giống như một cái lá cây non nằm trên mặt nước, nghiêng nghiêng về hướng đông bắc vậy. Khi chú ý kỹ hơn, trên vùng đất Cần Húc cũng có một dòng sông cổ ngoằn ngoèo chạy thẳng từ bắc xuống nam, cắt Cần Húc ra làm hai miền đông-tây trước khi đổ ra sông Cầu Mống.

&#x20;

<figure><img src="/files/wMP9UUrktQIpHnzPZux5" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

&#x20;

<figure><img src="/files/K7r5H2RsfeckVOSS4LE4" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

Vì sông Cầu Mống tương đối hiền hòa chảy chậm nên phù sa từ con sông cổ này tạo thành nhiều lớp trầm tích dưới đáy sông và dần dần tạo thành châu thổ Cần Húc. Có lẽ trong thế kỷ 18, con sông cổ này bắt đầu bị khô cạn vì sông Vĩnh Điện giờ đây cũng bị bế tắc – vì thế, vua Minh Mạng mới phải nới sâu và rộng nó ra hai lần vào năm 1822 và 1826. Vả lại, lịch sử cho thấy bãi bồi đắp bởi phù sa tại châu thổ Cần Húc nay cũng bịt kín con sông cổ ở cửa sông nên chúng tôi có thể khẳng định rằng con sông này đã không còn tồn tại nữa. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ hình vệ tinh trong Michelin Map (Hình 10), chúng tôi vẫn nhận ra châu thổ hình tam giác tại cửa sông Cầu Mống.

&#x20;

Để kiểm điểm lại giả thuyết về châu thổ Cần Húc, chúng tôi dùng kênh floodmap.net để tìm kiếm châu thổ hình thành bên bờ bắc sông Cầu Mống. Quả nhiên chúng tôi nhận diện ra một bãi bồi ngay bên sát bên cạnh sông Cầu Mống tại vị trí gần Cần Húc. Điều này nói lên rằng xưa kia xã Cần Húc, lúc vẫn còn là lỵ sở của Dinh Quảng Nam, bao gồm địa phận của châu thổ Cần Húc và xã Văn Đông dưới thời vua Gia Long. Hãy xem kết quả trong Hình 11.

&#x20;

<figure><img src="/files/svYayAIN6o3mSVu4NvJp" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

Thuộc Cần Húc

Vào năm 1688, nhà thám hiểm William Dampier (1651-1715) trên hành trình đến Úc Châu đã ghé chân qua Đàng Trong, đã đến thăm một thành phố mà ông gọi là “City of Quinam” (Thành phố Quảng Nam). Trong sách mà ông truyền lại, trước hết chiếc thuyền buôn của ông cập bến tại Cù Lao Chàm\[78]:

&#x20;

<figure><img src="/files/0HD4haW9jPGRLMDcwKmb" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

&#x20;

<figure><img src="/files/buh53UPkkIU0ToWVKXIq" alt=""><figcaption></figcaption></figure>

Chúng tôi cho rằng ông đã ghé thăm Cần Húc vì Cần Húc một thành phố riêng biệt đã được thành lập gần một trăm năm nay kể từ 1602. Nơi đây chính là dinh đô của toàn Dinh Quảng Nam. Nhưng muốn đến Cần Húc, từ bến đò nằm phía bắc sông Câu Lâu, ông phải tiếp tục đi theo đường bộ tiến về phía bắc, qua khỏi xã Câu Lâu và dòng suối Cầu Mống. Vì thế, chúng tôi nghĩ, Cần Húc trong thời gian này cũng nhộn nhịp không kém gì Hội An, nhưng rất thơ mộng và vì thế chúa Nguyễn Hoàng mới quyết định lập dinh cư tại đây. Để tìm hiểu thêm sự liên hệ giữa xã Cần Húc và xã Câu Lâu, chúng tôi sẽ bàn luận về từ “thuộc” trong gia phả tộc Nguyễn Văn.

&#x20;

Trong gia phả tộc Nguyễn Văn có nhắc đến một từ mà chúng tôi cho rằng khá quan trọng và cần được để ý đến, đó là từ “thuộc” được gán liền với châu thổ Cần Húc trong dòng chữ ‘Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc”. Ngoài ý tưởng về thuộc, gia phả tộc Nguyễn Văn còn cho biết rằng xã Câu Lâu – hiện nay là phường Điện Phương Đông – lệ thuộc vào châu thổ Cần Húc. Từ đó, chúng tôi có thể suy luận thêm rằng, ít nhất, cả hai xã Câu Lâu và Cần Húc đều nằm trong địa hạt của “thuộc Cần Húc”.\[81] Đồng thời, cũng như quan niệm của William Dampier, chúng tôi đồng ý và cho rằng thuộc Cần Húc xưa kia rất rộng bao gồm không những thành trì Dinh Chiêm, xã Cần Húc, xã Thanh Chiêm mà còn xã Câu Lâu nữa. Dựa theo địa bạ Quảng Nam, chúng tôi sẽ cố gắng toán định diện tích của thuộc Cần Húc.

&#x20;

Tiếp đến chúng tôi sẽ nhờ cậy sự giúp đỡ của sử gia Nguyễn Đình Đầu trong quyển Địa Bạ Quảng Nam viết dưới đời vua Gia Long vào năm 1812\[82]. Trong địa bạ, Nguyễn Đình Đầu cho biết địa phận xã Câu Lâu rất rộng (209 ha)\[83] và nằm cả hai bên bờ sông Câu Lâu – ông miêu tả rằng sau khi qua khi sông Câu Lâu, địa phận xã Câu Lâu kéo dài qua khỏi bờ nam sông Câu Lâu khoảng “Đường Thiên lý hai đoạn”\[84]. Bổ tục thêm vào lời tuyên bố của William Dampier, điều này cho biết xã Câu Lâu sở hữu cả nam và bắc (tả ngạn và hữu ngạn) hai bờ trên sông Câu Lâu.

&#x20;

Bây giờ chúng tôi đặt thêm giả thuyết nói rằng vì toàn thể xã Câu Lâu lệ thuộc Cần Húc mà ngày xưa, địa phận của xã Câu Lâu bao gồm cả hai bên bờ sông Câu Lâu. Vì vậy, kết quả cuối cùng là địa phận thuộc Cần Húc cũng nằm hai bên bờ sông Câu Lâu.

&#x20;

Sau đây chúng tôi sẽ lập lại và dùng gia phả của tộc Nguyễn Văn mà gia đình ông Nguyễn Ngọc Lan\[85], người xã Câu Lâu đã cung cấp để chứng minh những điểm chính trong giả thuyết trên là chính xác.

&#x20;

“Câu Lâu xã châu thổ Cần Húc thuộc, Diên Khánh huyện, Uất Lũy tổng, hậu cải Duy Xuyên huyện, Quảng Nam tỉnh”.

&#x20;

Trong phần đầu, gia phả này cho biết xã Câu Lâu lệ thuộc vào “châu thổ Cần Húc thuộc”. Điều này cho thấy trong lịch sử Dinh Quảng Nam, thời các chúa Nguyễn, xã Câu Lâu đã được thành hình, nhưng lệ thuộc vào miền châu thổ Cần Húc. Cách gọi này của Cần Húc nói lên rằng địa thổ Cần Húc ngày xưa rộng lớn và được tạo thành bởi một châu thổ. Hơn nữa, chữ “thuộc” xuất hiện nơi cuối của dòng chữ này nói lên nó là đơn vị hành chánh đặc biệt tương đương với “tổng” bao gồm các làng xã theo đuổi một tiểu công nghiệp truyền thống như nhau trong một huyện, thí dụ như các nghề truyền thống đóng thuyền, may lưới đánh cá, hay dệt tơ lụa, v.v… Trong tính cách nghề nghiệp, chúng ta có thể xét đoán rằng trong quá khứ xa xưa xã Câu Lâu và châu thổ Cần Húc được lệ chung vào “thuộc Cần Húc”. Nhưng khi chúng tôi tìm hiểu thêm về các thuộc dưới các triều đại họ Nguyễn trong các sử sách xưa như Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên\[86], hay Địa Bạ Dinh Quảng Nam (1812), chúng tôi rất thất vọng vì không thể tìm ra được thuộc “Cần Húc” ở bất cứ nơi nào. Thí dụ, vào năm 1776, Lê Quí Đôn cho biết nhà Nguyễn, trong huyện Duy Xuyên, lúc ấy có các thuộc như sau: Chu Tượng (đóng thuyền)\[87], Nội Phủ Kim Hộ (đãi vàng)\[88], Hoa Châu (dệt vãi lụa)\[89], Võng Nhị (làm lưới)\[90], Hà Bạc (đánh cá; làm mắm, muối)\[91], Thương Nhân Hội (buôn bán)\[92], Võng Nhị Phụ Quảng\[93], Kiều Cư Lậu Dân\[94], Võng Nhị Phúc An\[95], Biệt Nạp Hà Hồng\[96], Sơn Điền\[97], Xuân Xưởng\[98], Phụ Nguyên\[99], Sỹ Thần\[100], Mới Phúc An\[101] và Biệt Nạp\[102]. Nhưng đến đời vua Gia Long, vào năm 1812, ở huyện Duy Xuyên, ngoài 6 tổng, chỉ còn giữ lại 4 thuộc: Chu Tượng, Hà Bạc, Hoa Châu và Liêm Hộ\[103] mà thôi.\[104] Riêng huyện Diên Khánh chỉ còn một thuộc mà thôi, đó là thuộc Phú Châu. Đến đời vua Minh Mạng (1791-1841), tất cả các thuộc liên quan đến nghề nghiệp trong các huyện đều bị bãi bỏ. Trở về lại Cần Húc, đến đời vua Tự Đức (1829-1883), Cần Húc xưa kia trở thành xứ Cồn Úc thuộc xã Văn Đông.\[105] Riêng xã Câu Lâu, vào năm 1812, trong Địa Bạ Quảng Nam lại thuộc về tổng Mậu Hòa Trung, huyện Duy Xuyên\[106] chứ không lệ vào thuộc nào cả. Điều này có nghĩa rằng những dữ kiện trực hệ giữa xã Câu Lâu và xã Cần Húc đước ghi nhận trên gia phả tộc Nguyễn Văn đã xảy ra nhiều năm trước 1812, và có thể xa hơn trong quá khứ  trước 1776, vì chính Lê Quí Đôn cũng không biết gì về sự liên quan của hai đơn vị hành chánh Câu Lâu và Cần Húc qua thuộc nghề nghiệp gọi là thuộc Cần Húc. Có lẽ đây là một điều bí mật nghiêm trọng mà khi viết xuống trong sử sách có thể ảnh hưởng đến sự an nguy của Đàng Trong trong cuộc chiến với chúa Trịnh trong thế kỷ 17 và 18 nên các chúa Nguyễn đều giữ bí mật về các xã có liên quan đến thuộc Cần Húc. Vì thế, chúng tôi càng cương quyết muốn tìm ra sự thật về “Cần Húc thuộc” này hơn. &#x20;

&#x20;

Vậy thì những người dân trong huyện Duy Xuyên có chung một nghề nghiệp gì để chúa Nguyễn gom họ vào trong thuộc Cần Húc? Đó là nghề đúc đồng. Hai chữ Cần Húc, dựa theo nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy, là lối phát âm trong tiếng Việt từ “Kan Hu” từ tiếng Chăm và có nghĩa là “lò đúc đồng”.\[107] Lối suy luận có vẻ rất đúng lý. Ngoài ra, vào đầu thế kỷ 17, Đàng Trong lúc ấy đang tham dự cuộc chiến với Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn nhập cảng nhiều nguyên liệu đồng từ các đồng tiền xu cổ từ nước Nhật Bản hay Trung Quốc để chế tạo các súng thần công dựa theo kỹ thuật của người Bồ Đào Nha. Lúc ấy, lịch sử cho biết lúc ban đầu, Đàng Trong chưa học được kỹ thuật đúc súng đồng từ người Bồ Đào Nha vì hàng năm, các chúa thường gửi hàng vạn tiền xu đồng và nhờ cậy các vị giáo sĩ Dòng Tên mua súng thần công cho họ khi trở về Macao. Nhưng sau này, dưới đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), vào khoảng 1658-1661, chúa Hiền đã mời được chuyên gia đúc súng đồng João da Cruz (1610?-1682), người Bồ Đào Nha lai Ấn Độ, về làm việc tại làng Phường Đúc tại Huế.\[108] Từ đó, Đàng Trong đã sở hữu kỹ thuật đúc súng đại bác đồng. Sau này, hàng năm, triều đình thường kêu gọi các thuộc đúc đồng từ các huyện gửi các chuyên gia đúc đồng thay phiên nhau ra Huế làm việc trong Phường Đúc ít nhất ba tháng trong năm.\[109] Vì thế, suy luận một cách rộng rãi, chúng tôi cho rằng chế tạo súng thần công đồng nặng hơn cả ngàn kg mỗi khẩu cần rất nhiều công sức của các thợ đồng này và João da Cruz để dùng trong quốc phòng chống lại Đàng Ngoài, nên chúng tôi dự đoán, những dự án này cần giữ rất bí mật; ngay cả các danh sách tên của các xã trong thuộc đúc đồng cũng không được viết trong sử sách. Chúng tôi nghĩ, riêng cái tên của “thuộc Đúc Đồng” cũng phải dấu kín và dùng tên Chăm “Cần Húc” (Kan Hu) để che dấu chương trình tối mật khổng lồ này, thay vì dùng một cái tên Hán-Việt. Nếu không, một khi Đàng Ngoài nhận diện ra dự án trọng đại này họ có thể sẽ tìm cách phá hoại. Dựa theo lịch sử, từ đời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), sở dĩ cuộc nam tiến từ Phú Yên đến Hà Tiên và tranh đấu với chúa Trịnh thành công là, chúng tôi nghĩ, cũng nhờ vào sức mạnh của các khẩu thần công chế tạo từ Đàng Trong. Hiện nay, trước cửa bộ quốc phòng ở Bangkok, Thái Lan còn trưng bày hai khẩu thần công đúc ra từ Phường Đúc, gần Huế. Cả hai đều được Phường Đúc và João da Cruz chế tạo vào năm 1667.\[110] Vì cơ sở đúc đồng cần không những nguyên liệu như than củi, đồng, đất sét mà còn rất nhiều nước nữa, vì thế, chúng tôi không có gì ngạc nhiên khi nhận ra rằng các cơ xưởng đúc đồng trong huyện Duy Xuyên đều nằm gần các bờ sông như Cầu Mống và Câu Lâu. Khi tập hợp các chi tiết từ Nguyễn Sinh Duy và giả phả tộc Nguyễn Văn, chúng ta mới khám phá ra rằng Cần Húc chính là cái tên của một thuộc mà cũng là địa phận của một châu thổ tên là Cần Húc – vị trí của nó nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống, nhìn qua sông bên bên bờ nam là xã Câu Lâu. Còn Câu Lâu chỉ là một gò nổi nằm giữa hai con sông chính Cầu Mống và Câu Lâu và lệ thuộc vào thuộc Cần Húc. Một số người dân trú ngụ tại xã Câu Lâu làm nghề đúc đồng cũng giống như một số dân sống ở xã Cần Húc vậy. Hiện tại, tại phường Điện Phương có hai xưởng đúc đồng còn hoạt động kể từ thế kỷ 17, đó là Làng Đúc Phước Kiều (nằm phía tây bắc thành Dinh Chiêm cũ, gần tuyến đường Thiên Lý xưa) và Đồng Phước Kiều (nằm trên gò nổi Câu Lâu ngày xưa, gần sông Cầu Mống). Điều này cho thấy dữ kiện mà gia phả tộc Nguyễn Văn cung cấp rất đáng tin cậy. Tuy nhiên, càng nghĩ kỹ về dự án đức súng thần công dưới thời các chúa Nguyễn, có lẽ công trình bí mật chế tạo súng thần công bắt đầu dưới đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635)\[111] và chấm dứt trong thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần. Tuy chưa sưu tầm tài liệu lịch sử nào về chương trình đúc đồng của nhà Nguyễn, chúng tôi cảm thấy giả thuyết của mình khá vững chắc với lập trường căn bản, nhưng hiện tại, ngoài một vài dữ kiện từ lịch sử từ gia phả tộc Nguyễn Văn, chúng tôi chưa nắm thêm được các bằng chứng xác đáng về sự tồn tại của thuộc Cần Húc để công bố cả.

&#x20;

Sau khi cập nhật huyện Điện Bàn thành phủ va sát nhập nó vào Dinh Quảng Nam (1600), chúa Nguyễn Hoàng xây dựng một số cơ sở hành chánh dinh tại Cẩn Húc và thành trì Dinh Chiêm bên bờ sông Chợ Củi, cách Cần Húc khoảng 2 km về hướng tây nam và bổ nhiệm Công Tử Nguyễn Phúc Nguyên làm Trấn Thủ Quan (1602). Thuộc Cần Húc bành trướng về hướng ấy. Dân số bắt đầu nâng cao vì sự thịnh vượng đưa đến từ Hội An. Nằm giữa hai nơi, xã Thanh Chiêm lúc này có lẽ chỉ là một đường phố ngoại ô phụ thuộc về thuộc Cần Húc, lúc đầu chưa có một cái tên và cuối cùng trở thành một làng xã mới\[112]. Cuối thế kỷ 18, suốt thời gian gần 30 năm nội chiến, nước Đại Việt hầu như không có một chính quyền trung ương và vì thế, chúng tôi nghĩ, Cần Húc vẫn tiếp tục là lỵ sở của Dinh Quảng Nam, lệ thuộc vào huyện Duy Xuyên cho đến sau năm 1806, sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ngài chuyển lỵ sở Dinh Quảng Nam về xã Thanh Chiêm, chính thức đổi tên Cần Húc thành Văn Đông và thuyên chuyển các cơ sở và hệ thống hành chánh dinh Quảng Nam về xã Thanh Chiêm (1806).\[113] Chúng tôi cho rằng vì Cần Húc sau cuộc nội chiến, dân số thưa thớt; cảnh vật rất điêu tàn.

&#x20;

Nhắc lại xã Câu Lâu, vào năm 1776, Lê Quí Đôn cho biết nó lệ thuộc vào huyện Diên Khánh\[114] trước đó. Vì thế, gia phả tộc Nguyễn Văn viết “Diên Khánh huyện” không có gì lạ, nhưng vào năm 1812, địa bạ Quảng Nam cho thấy xã Câu Lâu trở về lại huyện Duy Xuyên\[115] và có thể vì thế, gia phả tộc Nguyễn Văn sửa chữa và cập nhật thêm dòng chữ “Hậu cải Duy Xuyên huyện”. Riêng câu “Quảng Nam tỉnh” được viết vào gia phả sau 1832, vì năm ấy, vua Minh Mạng đổi tên trấn Quảng Nam ra Tỉnh Quảng Nam.&#x20;

&#x20;

Nói tóm lại, chúng tôi cho rằng vào đầu thế kỷ 19, nếu ta đi bộ từ thành Dinh Chiêm nằm sát bờ sông Chợ Củi và tuyến đường Thiên Lý, trên con đường Nguyễn Du xưa về hướng đông bắc, đi được khoảng 2 km trên đường phố mà sau này trong thế kỷ 19 lấy tên là xã Thanh Chiêm (diện tích 121 ha \[116]) – hãy chú ý đến phạm vi của xã Thanh Chiêm rất rộng; vào đầu thế kỷ 19, nó bắt đầu từ tuyến đường Thiên Lý chạy dọc theo hướng đông bắc trên đường Nguyễn Du về phía xã Văn Đông; chu vi của xã Thanh Chiêm, dựa theo địa bạ tỉnh Quảng Nam, là khoảng 4,8 km; tiếp đến là xã Văn Đông (diện tích nhỏ lại chỉ còn lại khoảng 5 ha2 sau khi đổi tên từ Cần Húc vào năm 1806\[117]) nằm bên bờ bắc sông Cầu Mống.\[118] Sau khi qua sông về hướng nam, tiếp đến là gò nổi rộng lớn, nhưng rất hoang vu, đó là xã Câu Lâu (diện tích 209 ha\[119]). Dùng Google Map chúng tôi có thể minh định rằng gò nổi Câu Lâu chiếm hầu hết diện tích của xã Câu Lâu (khoảng 190-200 ha); nhưng địa phận phận còn lại (khoảng 10-15 ha) phải nằm bên bờ nam sông Câu Lâu (tạm gọi Nam Câu Lâu) với chiều sâu khoảng “Thiên Lý hai đoạn”\[120]. Điều này đã được xác nhận trong Địa Bạ Quảng Nam (1812) và William Dampier kể lại. Vì thế, chúng tôi có thể quả quyết rằng xã Câu Lâu nằm hai bên bờ sông Câu Lâu. Để tìm ra diện tích thuộc Cần Húc, chúng ta sẽ tổng cộng diện tích của 3 xã Thanh Chiêm (1806), Văn Đông (1806) và Câu Lâu (1812) vào với nhau; từ đó, chúng ta sẽ nhận diện ra diện tích và giới phận của thuộc Cần Húc nhắc đến trong gia phả, đó là khoảng 335 ha (3,35 km2). Dùng Google map, chúng tôi vẽ ra sơ đồ của thuộc Cần Húc như sau – Hình 13 (Chúng tôi nghĩ đây cũng là địa dáng tổng quát của thành phố Dinh Chiêm ngày xưa trước năm 1776):

&#x20;


---

# Agent Instructions: Querying This Documentation

If you need additional information that is not directly available in this page, you can query the documentation dynamically by asking a question.

Perform an HTTP GET request on the current page URL with the `ask` query parameter:

```
GET https://phantanloc.gitbook.io/locpt_wiki/homepage/1.nha-nghien-cuu-doc-lap-ve-van-hoa-lich-su/tong-hop-and-suu-tam/dinh-chiem-dinciam-o-dau/phan-01.md?ask=<question>
```

The question should be specific, self-contained, and written in natural language.
The response will contain a direct answer to the question and relevant excerpts and sources from the documentation.

Use this mechanism when the answer is not explicitly present in the current page, you need clarification or additional context, or you want to retrieve related documentation sections.
